Trang chủ Tin tức - Sự kiện Thủy sản Hội thảo xây dựng mô hình lấy mẫu kiểm soát dư lượng chất độc hại trong thủy sản nuôi

Trang web ngành







Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Khách trực tuyến

Hiện có 79 khách Trực tuyến
Hội thảo xây dựng mô hình lấy mẫu kiểm soát dư lượng chất độc hại trong thủy sản nuôi In Email

 

Để mặt hàng Tôm biển của Bến Tre có chổ đứng trên thị trường và có thương hiệu xuất khẩu được xuất khẩu sang các nước trên thế giới. Ngày 15 tháng 10 năm 2010, tại hội trường Ủy ban nhân dân xã Bình Thới huyện Bình Đại, Chi cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản phối hợp với Cơ quan quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản Nam Bộ tổ chức hội thảo xây dựng mô hình lấy mẫu kiểm soát dư lượng chất độc hại trong thủy sản nuôi đầu tiên ở Bến Tre cho hơn 50 nông dân nuôi tôm ở hai ban quản lý vùng nuôi tôm biển của xã Bình Thắng và Bình Thới.

Hình ảnh tại buổi hội thảo.Ảnh: Tác giả

Ông Trần Ngọc Nhuận – Chi cục Trưởng Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản triển khai Quyết định số 130/2008/QĐ-BNN ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành quy chế kiểm soát các chất dư lượng độc hại trong  động vật và sản phẩm động vật thủy sản nuôi. Tại Điều 7 của quy chế, trường hợp phát hiện dư lượng vượt giới hạn tối đa cho phép trong thủy sản nuôi quy định:

1. Tại công đoạn sản xuất, kinh doanh giống thủy sản: Cơ quan giám sát có văn bản cảnh báo, xác định nguyên nhân và yêu cầu cơ sở thực hiện biện pháp khắc phục phù hợp; lấy mẫu giám sát tăng cường cơ sở sản xuất, kinh doanh giống và cơ sở nuôi có sử dụng giống từ cơ sở bị phát hiện.

2. Tại thời điểm đang nuôi: Cơ quan giám sát có văn bản cảnh báo, xác định nguyên nhân và yêu cầu cơ sở thực hiện biện pháp khắc phục phù hợp và lấy mẫu giám sát dư lượng tăng cường. Thời điểm lấy mẫu tăng cường phụ thuộc mức độ đào thải của chất bị phát hiện theo hướng dẫn thống nhất của Cơ quan kiểm tra.

3. Tại thời điểm chuẩn bị hoặc đang thu hoạch:

a) Cơ quan giám sát có văn bản tạm đình chỉ thu hoạch, xác định nguyên nhân và yêu cầu cơ sở thực hiện biện pháp khắc phục phù hợp; yêu cầu và giám sát nuôi lưu, lấy mẫu giám sát dư lượng tăng cường theo hướng dẫn của Cơ quan kiểm tra. Khi kết quả kiểm tra mẫu tăng cường đạt yêu cầu, Cơ quan giám sát có văn bản cho phép cơ sở thu hoạch.

b) Đối với các chất đào thải chậm (cụ thể theo hướng dẫn của Cơ quan kiểm tra): Cơ quan kiểm tra phối hợp với Cơ quan giám sát cho phép thu hoạch làm thực phẩm khi đáp ứng các yêu cầu cụ thể của thị trường tiêu thụ hoặc chuyển mục đích sử dụng.

4. Trường hợp cơ sở đã thu hoạch: Cơ quan giám sát có văn bản cảnh báo, xác định nguyên nhân và yêu cầu cơ sở thực hiện biện pháp khắc phục phù hợp; tiến hành truy xuất lô sản phẩm thủy sản nuôi có nguồn gốc từ cơ sở; lấy mẫu giám sát dư lượng tăng cường theo hướng dẫn của Cơ quan kiểm tra.

5. Tại cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến thủy sản nuôi: Cơ quan giám sát/Cơ quan kiểm tra có văn bản cảnh báo, xác định nguyên nhân và yêu cầu cơ sở thực hiện biện pháp khắc phục phù hợp theo thẩm quyền; yêu cầu cơ sở tiến hành truy xuất nguồn gốc và cô lập lô sản phẩm thủy sản nuôi, lấy mẫu thẩm tra:

a) Khi kết quả đạt yêu cầu, cho phép giải phóng lô hàng.

b) Khi kết quả vẫn không đạt yêu cầu, chỉ cho phép sử dụng làm thực phẩm khi đáp ứng các yêu cầu cụ thể của thị trường tiêu thụ hoặc phải chuyển mục đích sử dụng.

Đồng thời đại diện Cơ quan QLCL NLS và TS Nam Bộ nêu lên tầm quan trọng của việc kiểm soát dư lượng chất độc hại trong động vật và sản phẩm động vật thủy sản nuôi. Kiểm soát dư lượng chất độc hại nhằm phát hiện kịp thời các mối nguy và dư lượng còn tồn lưu trong sản phẩm thủy sản,

*Dư lượng là phần còn lại của thuốc thú y, chất kích thích sinh trưởng và sinh sản, chất độc hại có nguồn gốc từ thức ăn, từ môi trường nuôi và các dẫn xuất của chúng tồn lưu trong động vật thủy sản có thể gây hại sức khỏe người tiêu dùng.

*Mối nguy là các nhân tố sinh học, hóa học và vật  lý trong sản phẩm có khả năng gây hại sức khỏe người tiêu dùng.

Và các mối nguy thuộc chương trình kiểm soát như:

1.     Kim loại nặng

2.     Thuốc trừ sâu

3.     Kháng sinh, hóa chất

4.     Độc tố nấm

5.     Chất kích thích sinh trưởng, sinh sản

Cụ thể trong thời gian qua Quỹ Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) chính thức công bố nghề nuôi và khai thác nghêu tại Bến Tre được Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế (Marine Stewardship Council) cấp chứng nhận MSC. Đây là lần đầu tiên MSC cấp chứng nhận đạt chuẩn cho một vùng nuôi nghêu tại Đông Nam Á. Từ đó con nghêu Bến Tre có được thương hiệu trên thị trường và được giá.

Từ việc kiểm soát chất độc hại trong thủy sản nuôi sẽ tránh được thiệt hại cho người nuôi, nhà chế biến và Nhà nước. Hướng tới nếu người nuôi không thực hiện tốt chương trình kiểm soát chất độc hại thì thị trường Châu âu và thị trường các nước trên thế giới sẽ không mua hoặc ép giá hàng thủy sản của Việt Nam dẫn nước dư thừa nguyên liệu trong nước và người nông dân thất thu. Qua buổi hội thảo có 100% nông dân tham gia ký thỏa thuận hợp tác với cơ quan quản lý chất lượng về kiểm soát các chất độc hại trong thủy sản nuôi. Hy vọng rằng trong tương lai gần vùng nuôi tôm Bến Tre sẽ có thương hiệu trên thị trường đáp ứng được yêu cầu các nước trên thế giới. Vì thế, việc hình thành vùng nuôi của doanh nghiệp nhất thiết phải liên kết với nông dân cùng với sự quan tâm của ngành nông nghiệp và các cấp chính quyền nhằm mang lại sự hài hòa về lợi ích. Và vấn đề quan trọng nhất người nuôi tôm phải tự điều chỉnh thói quen và tập quán nuôi tôm theo kiểu truyền thống. Cụ thể, không dùng hóa chất cải tạo ao nuôi ngoài danh mục cho phép của ngành nông nghiệp, không sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh tôm... Ngay từ bây giờ, người nuôi tôm phải hình thành một thói quen mới là nuôi tôm theo hướng an toàn sinh học sử dụng vi sinh, thực hành quy trình nuôi tôm tốt để từng bước đáp ứng yêu cầu thị trường. (Nguyễn Thị Cẩm – Phòng NN và PTNT Bình Đại)./.

Nguyễn Thị Cẩm-Phòng NN và PTNT Bình Đại

 
 

Tin mới nhất

Thông tin đấu thầu