Trang chủ Thủy lợi-PCLB Thủy lợi Những định hướng lớn của công tác thủy lợi giai đoạn 2010-2015

Trang web ngành







Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Khách trực tuyến

Hiện có 90 khách Trực tuyến
Những định hướng lớn của công tác thủy lợi giai đoạn 2010-2015 In Email
Thứ năm, 01 Tháng 4 2010 08:43

Thời gian qua, được sự quan tâm của các Bộ, ngành TW, nhất là sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, của Bộ NN&PTNT đã hỗ trợ cho ngành nông nghiệp Bến tre triển khai đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy lợi trọng điểm, như: Hệ thống thủy lợi Hương mỹ, Hệ thống Cầu sập, cống đập Ba lai…và hàng chục hạng mục, công trình thủy lợi khác và đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế và xã hội tỉnh nhà, từ công tác quy hoạch, xây dựng đến công tác quản lý, khai thác…đều phát huy hiệu quả, phục vụ tốt cho nhu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi, nâng cao năng suất, hiệu quả và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo diện tích tưới và ngăn mặn cho hơn 180 ngàn ha đất nông nghiệp, gần 40 ngàn ha nuôi trồng thủy sản, cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, đặc biệt là hơn 1 triệu người dân đang sinh sống trên địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng nhiễm mặn .... Công tác phòng, chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai luôn được các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong và ngoài nước từ Trung ương đến địa phương và toàn dân quan tâm, đầu tư xây mới, củng cố nâng cấp bảo đảm an toàn các hệ thống đê sông, đê biển, riêng trong việc phòng, chống lũ, bão cũng được đầu tư nhiều công trình như: nhà tránh trú bão, trang bị phao cứu sinh, tập huấn nâng cao ý thức cộng đồng về quản lý rủi ro thiên tai... đang chuẩn bị triển khai các ụ neo đậu tránh, trú bão cho tàu thuyền…Ðến nay, đã xây dựng mới và nâng cấp hằng trăm km đê sông, đê biển, kè chống xoáy lở….ngoài ra, tỉnh cũng được quan tâm đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt, cho DA nuôi trồng thủy sản. Hiện nay, tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh ở địa bàn nông thôn Bến tre chiếm hơn 80%, số hộ dân sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn 09 của Bộ Y tế  khỏang 28% .

Xáng cạp nạo vét thượng nguồn Sông Ba Lai. Ảnh D.V.Công

Ðể hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trên, ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bến tre, các đơn vị có liên quan và các địa phương trong tỉnh cần tập trung thực hiện các giải pháp sau đây:

Một là, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các ngành, các cấp, các đoàn thể và nhân dân trong tỉnh về ý nghĩa và tầm quan trong của công tác  thủy lợi trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng; để nâng cao tinh thần trách nhiệm trong quản lý, sử dụng và duy tu bảo dưởng tốt các công trình  thủy nông; Trên cơ sở đánh giá năng lực phục vụ của từng công trình đã có và tính toán nhu cầu phát triển của địa phương  trong tương lai để rà soát, bổ sung quy hoạch thủy lợi cho phù hợp ...

Hai là, tăng cường công tác quản lý. Nâng cao hiệu quả sử dụng, khai thác các công trình thủy lợi như: Các cống tưới, kinh nội đồng ( cấp, thoát), các công trình phòng, chống lụt bão, các tuyến đê bao chống ngập, kè sạt lở... Trong điều kiện ngân sách có hạn, cần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa công tác thủy lợi, nhằm tạo nguồn vốn cho duy tu, bảo dưởng các công trinh thủy lợi nhỏ, coi trọng nguồn  huy động, sự đóng góp của địa phương và người hưởng lợi qua thu thủy lợi phí và các khoảng tự nguyện khác. Ðồng thời phải đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện Luật Ðê điều và xây dựng quỹ phòng, chống lụt bão.

Ba là, tiếp tục tranh thủ sự hổ trợ tối đa của TW nhằm đẩy mạnh đầu tư các công trình xây dựng cơ bản, ưu tiên vốn đầu tư cho các công trình trọng điểm, thời gian thi công nhanh gọn, sớm phát huy hiệu quả như: Đê biển, hệ thống thủy lợi Bắc Bến tre, Hệ thống thủy lợi Cái quao, các công trình kè chống ngập úng và sạt lở… Ðặc biệt, cần chú trọng việc đầu tư xây dựng đồng bộ giữa Hệ thống kinh thủy lợi đầu mối, các cống điều tiết với nạo vét, xây dựng, nâng cấp hệ thống kênh mương nội đồng  nhằm phát huy tối đa hiệu suất công trình ; tăng cường công tác quản lý chất lượng, tiến độ thi công công trình và quản lý chặt chẽ vốn đầu tư, chống thất thoát lãng phí. Ðồng thời tăng cường hoàn thiện Phòng quản lý xây dựng cơ bản, Ban quản lý DA chuyên ngành, các Ban quản lý dự án …từ khâu sắp xếp tổ chức, bổ sung biên chế nhằm nâng cao năng lực và trách nhiệm  cán bộ, công nhân viên chức trong lĩnh vực hoạt động xây dựng cơ bản để quản lý tốt các bước từ chuẩn bị đầu tư, triển khai, thực hiện dự án đến hoàn thành, quyết toán và bàn giao đưa công trình vào hoạt động, phục vụ sản xuất.

Bốn là, coi công tác nghiên cứu khoa học, quản lý kỹ thuật và đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cũng là nội dung quan trọng không thể tách rời nhiệm vụ chính của ngành, phòng quản lý xây dựng cơ bản cùng với phòng khoa học kỹ thuật cần chú trọng rà soát và kiến nghị những vấn đề cần bổ sung sửa đổi các quy trình, quy phạm trong khảo sát, thiết kế, thi công cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn tại địa phương và xu hướng phát triển thời kỳ hội nhập. Chú ý hơn nữa đến công tác sơ, tổng kết công tác thi công công trình, công tác quản lý khai thác, sử dụng các công trình thủy lợi, để đánh giá rút kinh nghiệm, khắc phục kịp thời những hạn chế yếu kém.

Năm là, tăng cường cũng cố, sắp xếp tổ chức và nâng cao chất lượng của bộ máy quản lý công tác thủy nông 1 cách  toàn diện, xem xét kiến nghị bổ sung đầy đủ nhân sự cho các đơn vị: Phòng Quản lý các công trình XDCB, Chi Cục thủy lợi & phòng chống lụt bảo, Công ty TNHH MTV Quản lý & khai thác các công trình thủy lợi giúp các đơn vị nầy hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý và khai thác các công trình thủy nông, đê điều, phòng, chống lụt bão, xây dựng cơ bản... nhằm thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, tạo ra bước phát triển vững chắc trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa của đất nước.

Những vấn đề đặt ra cho ngành thủy lợi tỉnh nhà trong thời gian tới là rất lớn, đòi hỏi có sự chỉ đạo tập trung của các cấp ủy Đảng và chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, đồng thời cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành liên quan mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra

Năm 2010, trước những biến động ngày càng bất lợi của thời tiết do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra như: mưa, bão diễn biến phức tạp hơn, nước biển dâng lên xâm nhập sâu vào đất liền đe dọa đến sản xuất, đời sống của nhân dân ven biển. Trong khi đó 1 số hệ thống thủy lợi trọng điểm của Tỉnh đã xây dựng quá lâu và đang xuống cấp trầm trọng, nguồn tài nguyên nước đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trợng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp, nông dân, phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà, Trước tình hình đó, ngành Nông nghiệp & PTNT coi công tác thủy lợi là nhiệm vụ trọng tâm, trước mắt cũng như lâu dài của ngành và xác định nhiệm vụ, mục tiêu của công tác thủy lợi từ nay đến năm 2020 phải thực hiện được 3 nội dung lớn, đó là: Bảo đảm nhu cầu nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; nước cho nuôi trồng thủy sản, nước sinh hoạt cho 100% dân nông thôn theo tiêu chuẩn hợp vệ sinh; Tăng cường các giải pháp phòng, chống và thích ứng với biến đổi khí hậu, bão lụt, nước biển dâng, giảm thiểu tổn thất do thiên tai gây ra; bảo đảm an toàn các công trình: cống, đập, đê, kè, phối hợp chặt chẽ với Đơn vị đồng chủ đầu tư của Bộ trong việc triển khai, thực hiện đề án chống nước biển dâng cho vùng Dự án Hệ thống thủy lợi  Bắc Bến Tre; khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thi công công trình đê biển Ba tri, đồng thời lập dự án đầu tư và hồ sơ thiết kế kỷ thuật-tổng dự toán để triển khai đúng tiến độ đê biển Thạnh phú và đê biển Bình đại theo quyết định số 667 của Thủ Tướng Chính phủ;  khắc phục những hạn chế, yếu kém và phát huy tốt hiệu quả công tác quản lý khai thác, sử dụng công trình thủy lợi, phát huy triệt để công suất của hệ thống ... nhằm  tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nửa trong quá trình thúc đẩy phát triển sản xuất nông- ngư nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng nông thôn mới.

Lê Phong Hải-Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Bến Tre

 
 

Tin mới nhất

Thông tin đấu thầu