|
Đảng đã có Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, Bến Tre có chương trình hành động. Mười năm nhìn lại, được có nhiều mà khó khăn không ít, đặc biệt, những yếu kém đã nhìn thấy trước đây, nay vẫn còn gần như nguyện vẹn. Nên ngẫm lại hai từ “Làm gì” vẫn còn có chỗ đứng.
Thành tựu không nhỏ.
Đến cuối năm 2010, toàn tỉnh đếm trên danh sách có 1.080 tổ hợp tác và 101 hợp tác xã trên các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, giao thông vận tải, xây dựng, tín dụng, thương mại, khai thác tài nguyên,… Cộng lại, vốn cố định chỉ gần 100 tỉ đồng, khoảng 17.400 xã viên với 5.342 lao động. Tuy số lượng còn khiêm tốn, nhưng trong 101 hợp tác xã, gần 50% hoạt động tốt, còn lại là trung bình, số cầm cự chờ chuyển hướng hoạt động, thậm chí có trường hợp phải giải thể cũng có nhưng rất ít.
Điều đáng ghi nhận là tuy các hợp tác xã đứng trước những khó khăn, nhưng kể từ khi có NQ 13-NQ/TW ngày 18/3/2001 của Hội nghị trung ương 5 về phát triển kinh tế tập thể, các hợp tác xã ở Bến Tre đã có sự chuyển hướng tích cực, số lượng tăng mà chất lượng cũng được nâng lên, có nhiều cố gắng trong việc khai thác tiềm năng như huy động vốn, tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng tỷ trọng khu vực kinh tế tập thể trong GDP của tỉnh từ 0,6%/2001 lên 1,07%/2009 và 2%/2010. Các hợp tác xã cũng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh theo hướng nâng cao tỷ trọng cung ứng dịch vụ và giá trị gia tăng. Việc hợp tác xã mở rộng thêm ngành nghề trở thành hợp tác xã đa ngành hoặc kinh doanh tổng hợp khẳng định hướng đi đúng trong tình hình hiện nay và sắp tới. Nộp ngân sách cũng được chú ý, nếu như năm 2001 chỉ khoảng 500 triệu đồng, thì 2009 nâng lên hơn 5 tỉ. Hợp tác xã còn hỗ trợ kinh tế hộ xã viên phát triển, nâng cao thu nhập, giảm nghèo, nông thôn mới từng bước đổi thay,…
Trên lĩnh vực xã hội cũng chuyển biến có hiệu quả. Ngoài việc tạo việc làm cho nông dân lúc nông nhàn, phát triển các ngành nghề truyền thống, thông qua hợp tác xã mà tình làng nghĩa xóm, thực hiện các tiến bộ xã hội, nhận thức mọi mặt nâng cao, dân chủ được phát huy, phúc lợi xã hội cũng được phát triển như xây dựng quỹ vì người nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương, xây dựng cầu đường, trường học, trạm y tế,… như hợp tác xã thủy sản An Thủy chi trên 2,6 tỉ đồng, còn hợp tác xã Rạng Đông chi gần 14 tỉ,…
|
|
|
Thu hoạch nghêu ở Hợp tác xã Rạng Đông.
|
Kết quả là vậy, nhưng sau 10 năm nhìn lại, những hạn chế trước đây đã thấy, nay vẫn còn hiển hiện. Đó là số hợp tác xã làm ăn có hiệu quả còn ít; vốn và quy mô hoạt động của các hợp tác xã còn nhỏ bé; trình độ cán bộ quản lý thấp; chưa có mô hình hợp tác xã tiên tiến; giá trị sản xuất của kinh tế tập thể chiếm tỷ trọng thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đủ sức cùng kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng trong nền kinh tế thị trường,…. Phải chăng những yếu kém kể trên từ lâu chưa được khắc phục triệt để, cốt lõi vẫn là do nhận thức của các cấp, các ngành và cán bộ, đảng viên về thành phần kinh tế hợp tác chưa đúng mức, nên công tác tuyên truyền, vận động về chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể chưa được quan tâm đúng mức, chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để đẩy mạnh kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong tỉnh, người dân còn ngán ngại việc tổ chức làm ăn tập thể?
Làm gì và làm như thế nào?
Hiện nay, phong trào hợp tác ở Bến Tre đã và đang gặp phải không ít những vấn đề, thậm chí nó còn là vật cản trên con đường đi tới. Đi qua các hợp tác xã Đồng Tâm, Rạng Đông của Bình Đại, các hợp tác xã nghêu của huyện Thạnh Phú, hợp tác xã cây giống Cái Mơn của huyện Chợ Lách và hợp tác xã nông nghiệp xã Hữu Định của huyện Châu Thành cho thấy nhiều điều. Ai cũng nói là cần hợp tác xã, nhưng vào chủ yếu là được hỗ trợ và hưởng các quyền lợi khác, chứ không thấy hết nghĩa vụ và trách nhiệm đối với hợp tác xã. Điển hình là việc mua cổ phần cũng không quan tâm, phó mặt cho quản lý, thậm chí còn quên mất mình là xã viên. Còn nhớ, có lần đến xã Thạnh Phong (Thạnh Phú), hỏi một nông dân, ông không trả lời mà quay sang nói vọng xuống nhà sau với vợ: “Hình như mình cũng có cổ phần trong hợp tác xã thì phải?”. Một giọng nói của người đàn bà từ nhà dưới vọng lên: “Có, 200.000 đồng, nhưng không nhớ rõ năm nào”. Như vậy thì làm sao thấy được trách nhiệm của mình để thực hiện nghĩa vụ với hợp tác xã. Đó là ở dân, còn trong nội bộ, cấp huyện chỉ có một cán bộ được bố trí ở văn phòng ủy ban chuyên tổng hợp về tình hình này, chưa chắc là am hiều và nhiệt tình cho lắm, còn ở xã thì phó chủ tịch ủy ban kiêm luôn công tác này. Nhìn vào bố trí cán bộ cũng đủ thấy rõ sự thờ ơ, lãnh đạm của cấy ủy ở hai cấp này đối với công tác hợp tác hóa. Một khó khăn nữa là nhìn bề ngoài tưởng như không có, đó là Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách kể cả luật đã tạo hành lang pháp lý cho hợp tác xã trong quá trình chuyển đổi, nhưng thực tế sự tác động này còn quá chậm, nhiều chính sách ban hành nhưng đến nay hợp tác xã chưa được hưởng lợi, “cụ thể là thủ tục vay ngân hàng, tư nhân thì họ đưa cái nhà, giấy đất của họ ra, còn chúng tôi thì có cái gì? Không lẽ gom giấy đất của các xã viên thì ngân hàng đồng ý à?” – làm việc với các anh trong ban chủ nhiệm hợp tác xã cây giống Cái Mơn (Chợ Lách) đã nhận được nội dung như vậy. Thực trạng trên, việc tạo nhận thức lại theo tinh thần Nghị quyết 13 của Đảng để có hành động đúng là hết sức cần thiết.
Phát triển hợp tác xã theo hướng nào cũng là vấn đề đang đặt ra. Phát triển bền vững là sự cân bằng giữa ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Trong điều kiện ở Bến Tre, phát triển hợp tác xã theo hướng bền vững không chỉ bảo đảm đạt hiệu quả kinh tế lâu dài vì nó gắn với bảo vệ môi trường, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người mà còn đem lại tác dụng trực tiếp là giảm nghèo. Từ thực tế các hợp tác xã cho thấy vấn đề cần nhất hiện nay chính là củng cố phát triển trong dài hạn với một mô hình hợp tác xã phù hợp. Điều không thể không suy nghĩ đối với các hợp tác xã nông nghiệp đều có số lượng xã viên rất ít, phổ biến từ 20 đến 30 xã viên. Điều này bất lợi nhiều mặt. Đó là không tăng được nguồn vốn và không chứng tỏ được uy tín của hợp tác xã, đồng thời là tính ưu việt của cung cách làm ăn tập thể. Nhưng cũng phải thấy rằng xã viên càng đông đòi hỏi công tác quản lý, điều hành phải khoa học hơn.
Phát triển đa dạng hóa các loại hình sản xuất và dịch vụ trong hợp tác xã và liên kết kết các hợp tác xã sẽ giúp từng hợp tác xã chủ động mở rộng hoạt động sản xuất và kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường. Xã viên từng loại hình hợp tác xã sẽ an tâm hơn trong việc chuyên sâu từng mảng để nâng cao tay nghề, mà không sợ đầu ra bị ép giá hoặc ế ẩm, vì các khâu còn lại trong quá trình sản xuất, kể cả lưu thông, nơi tiêu thụ đã có người “của mình” lo.
Phát triển thương hiệu sản phẩm cũng là vấn đề cần phải quan tâm. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề thương hiệu sẽ là điều kiện tác động rất mạnh đến sản phẩm và dịch vụ từ hợp tác xã, nhưng để có một thương hiệu đòi hỏi phải có thời gian và sự hợp tác nhiều phía, trong đó vai trò của chính quyền địa phương là không thể thiếu, như “công tác tuyên truyền, quảng bá sản phẩm, dịch vụ trên các phương tiện thông tin đại chúng chẳng hạn, thứ gì cũng không khác tư nhân, trong lúc nguồn vốn có hạn thì rất khó cạnh tranh lại các thành phần kinh tế khác”.
Vốn và cơ sở vật chất ở từng hợp tác xã là rất yếu kém. Trừ quỹ tín dụng nhân dân, các loại hình hợp tác xã khác phổ biến là sau khi chuyển đổi chỉ có khoảng 500 triệu đồng, nhưng đa phần là tài sản cố định, vốn lưu động còn rất ít, thường là không đến một phần năm, thậm chí có hợp tác xã sau khi chuyển đổi không còn một đồng tiền mặt, phải đi vay. Nhưng điều cay đắng hơn về vốn của hợp tác xã sau khi chuyển đổi lại phần lớn là đang bị chiếm dụng hoặc bị khoanh nợ chờ nhà nước giải quyết. Theo khảo sát của Liên minh các hợp tác xã tỉnh Bến Tre trong 15 hợp tác xã vừa qua cho thấy, vốn bình quân của mỗi hợp tác xã sau khi chuyển đổi chỉ gần 200 triệu, nhưng bị chiếm dụng đến 69, 4%, không ít xã viên nợ hợp tác xã chưa giải quyết xong nợ cũ thì nợ mới tiếp tục phát sinh. Mặt khác, tài sản cố định sau khi đánh giá chủ yếu là các công trình cũ, công nghệ lạc hậu, bị xuống cấp. Vốn lưu động ít, hoạt động gặp khó khăn, không mở rộng hoạt động, khả năng đáp ứng yêu cầu bị hạn chế là không tránh khỏi.
Trình độ cán bộ quản lý luôn bất cập. Sau chuyển đổi số lượng cán bộ giảm nhiều nhưng không tinh. Nhìn chung, hoạt động của cán bộ theo kinh nghiệm, nhiệt tình là chủ yếu, chưa được bồi dưỡng phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường. Mặc khác, đội ngũ cán bộ quản lý thường thay đổi do yêu cầu và bầu cử, cán bộ có năng lực, đủ kinh nghiệm luôn là vấn đề đặt ra trong hợp tác xã. Theo thống kê của Liên minh các hợp tác xã tỉnh, cán bộ quản lý tại các hợp tác xã nông nghiệp không có trình độ đại học, chỉ có 4 người có trình độ trung cấp, số còn lại chỉ ở phổ thông, trong đó có cả tiểu học. Cán bộ trên lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, trung cấp và đại học chỉ có 7 người chiếm 14,3% so với cán bộ quản lý các hợp tác xã trên lĩnh vực này. Cán bộ quản lý hợp tác xã trên lĩnh vực thủy sản tổng số có 43 người, nhưng đại học và trung cấp chỉ có 18.
Một việc làm không thể thiếu hay qua loa trong nội bộ hợp tác xã, đó là công tác thông tin và chuẩn hóa các quy trình kiểm toán hợp tác xã cũng được xem là một việc làm mang tính nguyên tắc. Sự hiểu biết giữa xã viên và ban quản trị, sự minh bạch trong hoạt động của hợp tác xã sẽ giải tỏa được các mâu thuẩn không đáng có trong từng hợp tác xã, những cuộc biểu tình ở hợp tác xã Rạng Đông hay xã viên cũng tham gia bắt nghêu trộm ở Thạnh Phú vừa qua hay sự thờ ơ của xã viên trong các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay, suy cho cùng là bắt nguồn từ những hoạt động mang tính nguyên tắc trên. Muốn vậy trình độ cán bộ là trên hết, không thể làm theo lối mòn, làm theo kinh nghiệm được.
Về công cuộc hợp tác hóa, Lê-nin có câu nói nổi tiếng: Hãy để cho người nông dân suy nghĩ trên luống cày của họ. Trong điều kiện của Bến Tre bây giờ và không chỉ người nông dân tỉnh này đang nghĩ và đã tự làm rồi. Vấn đề là ở chỗ tạo điều kiện cụ thể cho họ nghĩ để hành động đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng và xã hội, trong đó có bản thân và gia đình họ với hình thức và quy mô thích hợp./.
Lê Quang Nhung |